Mức khấu trừ tiền lương mỗi tháng không được quá 30% tiền lương thực trả. Tiền lương thực trả tính sau khi trích BHXH, BHYT, BHTN và thuế TNCN. Doanh nghiệp chỉ được trừ để người lao động bồi thường thiệt hại do làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị, tài sản. Căn cứ Điều 102 Bộ luật Lao động 2019, hiệu lực từ 01/01/2021.
- Điều 102, Điều 127 và Điều 129 Bộ luật Lao động 2019 số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019, hiệu lực từ 01/01/2021.
- Điều 7, khoản 2 và khoản 5 Điều 23, Điều 25 Nghị định 283/2026/NĐ-CP ngày 15/7/2026 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, hiệu lực từ 10/9/2026, thay thế Nghị định 12/2022/NĐ-CP.
- Nghị định 293/2025/NĐ-CP về mức lương tối thiểu vùng, áp dụng từ 01/01/2026.

Vì sao khấu trừ tiền lương bị giới hạn ở mức 30%?
Tiền lương là nguồn sống chính của người lao động. Điều 102 Bộ luật Lao động 2019 đặt trần 30% để khoản bồi thường không lấy đi phần thu nhập tối thiểu cần cho sinh hoạt hằng tháng. Phần thiệt hại vượt trần được trừ dần sang các tháng sau, không trừ một lần.
Cơ sở tính 30% là tiền lương thực trả của tháng đó, không phải lương ghi trong hợp đồng. Doanh nghiệp trích BHXH, BHYT, BHTN phần người lao động đóng và tạm khấu trừ thuế TNCN trước, rồi mới lấy 30% của số còn lại. Người lao động có quyền được biết lý do bị khấu trừ.
Bài 7 quy định bảo vệ quyền lợi người lao động từ năm 2026 tổng hợp các giới hạn khác về tiền lương, làm thêm giờ và kỷ luật lao động mà bộ phận C&B cần nắm.
Trừ lương người lao động trong trường hợp nào?
Theo Điều 102 Bộ luật Lao động, doanh nghiệp chỉ được trừ lương người lao động để bồi thường thiệt hại do làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị, tài sản của doanh nghiệp theo Điều 129. Ngoài trường hợp này, Bộ luật Lao động không cho phép khấu trừ tiền lương.
Điều 129 phân biệt theo mức độ lỗi. Thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất, giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng nơi người lao động làm việc, thì người lao động bồi thường nhiều nhất 3 tháng tiền lương và bị khấu trừ hằng tháng vào lương. Với vùng I năm 2026, 10 tháng lương tối thiểu là 53.100.000 đồng.
Các lý do thường bị dùng để trừ lương như đi muộn, không đạt chỉ tiêu, vi phạm nội quy không thuộc trường hợp trên. Điều 127 cấm dùng hình thức phạt tiền, cắt lương thay việc xử lý kỷ luật lao động. Vi phạm nội quy chỉ xử lý bằng các hình thức kỷ luật luật định.
Mức phạt khấu trừ lương sai quy định từ 10/9/2026
| Hành vi | Phạm vi vi phạm | Cá nhân | Doanh nghiệp (tổ chức) |
|---|---|---|---|
| Khấu trừ tiền lương không đúng quy định (khoản 2 Điều 23) | 01 đến 10 người | 5 đến 10 triệu đồng | 10 đến 20 triệu đồng |
| 11 đến 50 người | 10 đến 20 triệu đồng | 20 đến 40 triệu đồng | |
| 51 đến 100 người | 20 đến 30 triệu đồng | 40 đến 60 triệu đồng | |
| 101 đến 300 người | 30 đến 40 triệu đồng | 60 đến 80 triệu đồng | |
| Từ 301 người | 40 đến 50 triệu đồng | 80 đến 100 triệu đồng | |
| Phạt tiền, cắt lương thay kỷ luật (điểm c khoản 3 Điều 25) | Mỗi hành vi | 20 đến 40 triệu đồng | 40 đến 80 triệu đồng |
| Bồi thường thiệt hại sai trình tự, thủ tục, thời hiệu (điểm đ khoản 2 Điều 25) | Mỗi hành vi | 5 đến 10 triệu đồng | 10 đến 20 triệu đồng |
Ngoài tiền phạt, doanh nghiệp khấu trừ lương sai quy định bị buộc trả đủ tiền lương cho người lao động cộng tiền lãi. Lãi tính theo lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt (điểm a khoản 5 Điều 23).
Với hành vi cắt lương thay kỷ luật, doanh nghiệp bị buộc trả lại khoản tiền đã thu hoặc trả đủ tiền lương (điểm d khoản 4 Điều 25). Hành vi xảy ra và kết thúc trước 10/9/2026 vẫn xử lý theo văn bản có hiệu lực tại thời điểm vi phạm. Hỏi đáp liên quan: không công khai thang lương, bảng lương bị phạt bao nhiêu.
Ví dụ cụ thể
Chị E làm việc tại Công ty A ở địa bàn vùng I, lương tháng 15.000.000 đồng. Phần BHXH, BHYT, BHTN chị E đóng là 10,5%, tức 1.575.000 đồng. Thuế TNCN tháng này bằng 0 vì thu nhập sau bảo hiểm thấp hơn mức giảm trừ bản thân 15.500.000 đồng. Tiền lương thực trả là 13.425.000 đồng.
Chị E sơ suất làm hỏng máy quét mã vạch. Thiệt hại không nghiêm trọng và thấp hơn 53.100.000 đồng (10 tháng lương tối thiểu vùng I), nên mức bồi thường tối đa là 3 tháng tiền lương. Sau buổi họp xử lý bồi thường theo nội quy, Công ty A xác định mức bồi thường 12.000.000 đồng.
Trần khấu trừ mỗi tháng là 30% x 13.425.000 = 4.027.500 đồng. Công ty A trừ 4.027.500 đồng ở tháng thứ nhất, 4.027.500 đồng ở tháng thứ hai và 3.945.000 đồng ở tháng thứ ba. Hồ sơ cần lưu: biên bản họp, quyết định bồi thường, bảng lương và phiếu lương ghi rõ khoản khấu trừ.
Nếu Công ty A trừ 6.000.000 đồng ngay tháng đầu, phần vượt trần là khấu trừ tiền lương không đúng quy định. Vi phạm với 1 người lao động, Công ty A có thể bị phạt 10 đến 20 triệu đồng và phải trả lại phần trừ sai kèm tiền lãi.
Trường hợp ngoại lệ
Theo Điều 129, người lao động không phải bồi thường khi thiệt hại do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh nguy hiểm, thảm họa hoặc sự kiện khách quan không thể lường trước và không thể khắc phục dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết. Khi không phát sinh nghĩa vụ bồi thường, doanh nghiệp cũng không có căn cứ khấu trừ tiền lương.
BHXH, BHYT, BHTN phần người lao động đóng và thuế TNCN là khoản doanh nghiệp trích nộp theo luật. Điều 102 Bộ luật Lao động trừ các khoản này ra trước khi tính trần 30%, nên chúng không bị tính vào mức khấu trừ để bồi thường.
- Tính 30% trên lương hợp đồng: cách đúng là tính trên lương thực trả sau khi trích BHXH, BHYT, BHTN và thuế TNCN của tháng đó.
- Trừ lương vì đi muộn hoặc vi phạm nội quy: đây là cắt lương thay kỷ luật, bị phạt 20 đến 40 triệu đồng với cá nhân và 40 đến 80 triệu đồng với doanh nghiệp.
- Trừ toàn bộ khoản bồi thường trong một tháng: phần vượt 30% phải dời sang các tháng sau.
- Trừ lương khi chưa họp xử lý bồi thường hoặc không thông báo lý do: người lao động có quyền được biết lý do khấu trừ, và sai trình tự bị phạt 5 đến 10 triệu đồng với cá nhân.
Bảng lương có khoản khấu trừ bồi thường kéo dài nhiều tháng?
terra tính lương hằng tháng, tự đối chiếu trần 30% trên lương thực trả và ghi rõ từng khoản khấu trừ trên phiếu lương. Tìm hiểu dịch vụ tính lương terra




