Về nguyên tắc, giao kết và xác lập HĐ nói chung và HĐLĐ nói riêng là sự thỏa thuận một cách tự nguyện của các bên và không vi phạm điều cấp của pháp luật cho nên các bên hoàn toàn có thể sử dụng một ngôn ngữ khác là tiếng nước ngoài để giao kết và thực hiện, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định bắt buộc về ngôn ngữ hợp đồng phải là tiếng Việt.
Quy định tại Điều 15 Bộ luật Lao động 2019 như sau:
“Điều 15. Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động
1. Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực.
2. Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội.”
Dù pháp luật không cấm việc giao kết hợp đồng lao động bằng tiếng nước ngoài nhưng khi nộp hợp đồng lao động cho Tòa án có thẩm quyền tại Việt Nam để làm chứng cứ trong một vụ án tranh chấp lao động thì hợp đồng lao động đó phải được dịch sang tiếng Việt, công chứng và chứng thực hợp pháp theo quy định.
Theo đó, có thể giao kết hợp đồng lao động bằng tiếng nước ngoài nhưng nhận thấy mối quan hệ lao động nào được xác lập tại Việt Nam chủ thể ký kết hợp đồng lao động là người Việt Nam, và các bên cũng sẽ thực hiện hợp đồng lao động tại Việt Nam thì nên ưu tiên lựa chọn ngôn ngữ là tiếng Việt để giao kết hợp đồng. Ngoài ra, còn để thuận tiện và tránh rắc rối trong việc làm việc với CQNN vì HĐLĐ là cơ sở để đăng ký, kê khai và đóng BHXH bắt buộc và khấu trừ thuế TNCN







